MENU

Cao xương dê quý hiếm , chữa đau nhức xương khớp , bổ thận tráng dương , bồi bổ cơ thể , phục hồi sức khỏe phụ nữ sau sinh . Giá bán lẻ 300k/100g , giá bán buôn gọi 01656 747 827 :)
Hiển thị các bài đăng có nhãn Y HOC. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Y HOC. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 10 tháng 2, 2015

CAO XƯƠNG DÊ



CÔNG DỤNG CAO XƯƠNG DÊ Biểu tượng cảm xúc smile

1. CAO XƯƠNG DÊ - THẦN DƯỢC CỦA PHÁI MẠNH Biểu tượng cảm xúc smile 
2. Ngoài ra còn có tác dụng phục hồi sức khỏe của phụ nữ sau sinh Biểu tượng cảm xúc smile tăng khả năng tiết dịch sữa cho mẹ .
3. Điều trị đau nhức xương khớp , thoái hóa khớp , phong tê thấp , vôi hóa cột sống ở người già .
4. Điều trị kém ăn mất ngủ Biểu tượng cảm xúc smile , bồi bổ cơ thể bị suy nhược do làm việc quá sức , người mới ốm dậy Biểu tượng cảm xúc smile

HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG :

+ Người lớn: Uống 5 – 10 g/ngày
+ Trẻ em : Uống 2 – 5 g/ngày

CÁCH SỬ DỤNG :

Cách 1 : Hòa nước uống.
– Cắt 10g cao hòa cùng nước sôi khuấy đều đến khi miếng cao hòa tan cùng nước là có thể sử dụng được. Bạn có thể dùng nóng hoặc để nguội khi dùng ( tùy sở thích).

Cách 2: Ngâm rượu cao dê.
– Tỷ lệ: 100g cao ngâm với 1 lít rượu trắng loại ngon
– Thời gian ngâm : 15 – 20 ngày
– Sử dụng: Ngày uống 1- 2 lần trước hoặc sau bữa ăn, mỗi lần một chén con (15ml) sẽ có tác dụng rất tốt cho sức khỏe sinh lý của bạn.

CẢNH BÁO :

– Không nên dùng cao dê cho người có bệnh Gút, tiểu đường, suy gan, thận
– Trong thời gian dùng cao hạn chế uống nước trà đặc, ăn thịt gà, tỏi, trái đào, trái mận.

BẢO QUẢN :

Đây là sản phẩm được sản xuất hoàn toàn theo cách cách cổ truyền không sử dụng chất bảo quản vì vậy xin quý khách hãy tuân thủ nghiêm ngặt quy tắc bảo quản dưới đây :
– Bảo quản ở nơi khô mát nhiệt độ khoảng 25 độ c (tốt hơn khi bảo quản ở ngăn mát tủ lạnh khoảng 10 độ C) (Nếu để lâu trên 10 ngày không có tủ lạnh nên bóc túi ni lông vùi bánh cao vào thùng gạo theo cách cổ truyền).

GIÁ BÁN LẺ :

* LOẠI 1 : CAO DÊ NGỌC HOÀN - Chất lượng No.1 
Giá bán lẻ : 400k/100g
Cơ sở sản xuất : Văn Lâm - Hưng Yên 
website : http://caomeo.com/

* LOẠI 2 : CAO DÊ ĐỨC THÀNH 
Giá bán lẻ 300K/100g
Cơ sở sản xuất : Gia Viễn - Ninh Bình 

GIÁ BÁN BUÔN : CALL 01656 747 827 ( MUA TỪ 4 LẠNG TRỞ LÊN )
1 Đợt điều trị từ 2 - 4 lạng , tùy vào cơ địa , khả năng hấp thụ của mỗi người Biểu tượng cảm xúc smile

Liên hệ : Mr.Thành 01656 747 827 - Email : thanhafy@gmail.com
Đ/C : Chợ Nam Trung Yên - Trung Hòa - Cầu Giấy - Hà Nội Biểu tượng cảm xúc smile
Nhận Giao hàng Toàn quốc Biểu tượng cảm xúc smile

WEBSITE : http://caoxuongde.blogspot.com/
FACEBOOK : https://www.facebook.com/caoxuongde



Thứ Hai, 9 tháng 2, 2015

Tác dụng trị liệu của một số loại cao động vật


Từ xa xưa, loài người đã biết sử dụng các loại động vật săn bắn được để lấy thịt ăn, còn xương dùng nấu thành cao làm thuốc bồi bổ sức khỏe và chữa trị rất hiệu quả nhiều bệnh tật.

Ngày nay, ngành Đông dược nước ta và nhiều nước trên thế giới vẫn kế thừa các biện pháp chế biến xương động vật thành các loại cao để làm thuốc chữa bệnh. Bài viết sau xin giới thiệu những nét cơ bản về tác dụng trị liệu của một số loại cao động vật thường gặp.

Cao xương báo Xương báo còn gọi là Báo cốt. Tên khoa học OS Pantherae. Bộ phận sử dụng làm thuốc là toàn bộ xương các loài báo. Đông y cho rằng cao mềm nếu từ xương báo tính hơi ấm, vị cay, mặn đi vào kinh can, thận. Dùng làm thuốc bổ toàn thân, có thể dùng thay xương hổ để chữa đau nhức gân xương, tê thấp dưới dạng cao mềm. Ngày uống 5-10g. Người thực nhiệt không nên dùng.

 Cao xương gấu Xương gấu còn gọi là Hùng cốt. Tên khoa học OS ursi. Bộ phận sử dụng là toàn bộ xương các loài gấu đã phơi khô. Tính ấm, cay, vị mặn đi vào kinh can và thận. Tác dụng bồi bổ khí huyết hư tổn, chân lạnh đau buốt (cước khí), gân xương nhức mỏi, trẻ em trúng phong chân tay co giật cũng dùng ở dạng cao mềm với liều trung bình từ 8-12g mỗi ngày.

Cao xương hổ Xương hổ còn gọi là Hổ cốt hay Đại trùng cốt. Tên khoa học OS Tigris. Bộ phận dùng làm cao gồm toàn bộ xương phơi khô. Theo Đông y cao xương hổ tính nóng cay, mặn; vào kinh can và thận. Dùng chữa phong hàn thấp, gân xương đau nhức, mỏi lưng, nhức chân, hồi hộp lo sợ, điên cuồng. Bồi bổ khí huyết hư tổn. Dùng dạng cao mềm hay ngâm trong rượu trắng. Liều uống trung bình mỗi ngày từ 5-10g. Người huyết hư, hỏa vượng không dùng.

Cao xương hươu, nai Xương hươu, nai có tên khoa học là OS Cervi. Bộ phận dùng làm cao là toàn bộ xương phơi khô. Tính hơi ấm, vị mặn; vào kinh can và thận. Thường được dùng phối hợp với các xương thú khác như hổ, báo, gấu, khỉ, dê, ngựa… để nấu thành cao làm thuốc bổ khí huyết hư tổn. Uống ở dạng cao mềm hay rượu, ngày 5-10g.

Cao xương khỉ Còn gọi là Hầu cốt. Tên khoa học OS Macacae. Bộ phận dùng là toàn bộ xương các loài khỉ phơi khô. Tính hơi ấm, vị mặn, đi vào thận. Dùng làm thuốc bổ máu, bổ toàn thân. Thường dùng cho phụ nữ kém ăn, kém ngủ, xanh xao, thiếu máu, ra mồ hôi trộm. Dùng dưới dạng cao mềm hòa với mật ong, ngày 5-10g.

Cao xương dê Còn gọi là Dương cốt. Tên khoa học OS Caprae. Bộ phận dùng nấu cao là toàn bộ xương các loài dê phơi khô. Đông y cho rằng cao xương dê tính ấm, vị mặn; đi vào các kinh can, tỳ, thận. Tác dụng trị liệu: làm thuốc bổ máu, phụ nữ sau sinh cơ thể gầy yếu, ăn kém, sữa ít. Đặc biệt còn dùng xương dê phối hợp với xương các loài thú khác như hổ, báo, gấu, khỉ, chó, ngựa… để nấu thành cao làm thuốc bổ toàn thân. Liều dùng thông thường từ 10-20g mỗi ngày.

Cao quy bản Là dùng yếm rùa khô để nấu thành cao, nên quy bản còn gọi là yếm rùa hay quy giáp. Tên khoa học là carapax Testudinis. Quy bản tính lạnh, vị ngọt, mặn; đi vào các kinh thận, tâm, can, tỳ. Tác dụng chữa thận âm suy yếu, ù tai, nóng nhức trong xương, ho lâu ngày, di tinh; Tay, chân, lưng, gối đau nhức; Phụ nữ khí hư, bạch đới. Dùng dưới dạng thuốc sắc, bột, viên hoàn hoặc dạng cao. Nếu là dạng thuốc sắc, liều lượng trung bình mỗi ngày từ 12-24g. Nếu là dạng cao, ngày dùng từ 10-15g. Cần lưu ý các trường hợp người âm hư mà không nhiệt thì không dùng.

Cao mai ba ba Mai ba ba còn gọi là Miết giáp hay Thủy ngư xác, Giáp ngư. Tên khoa học Carapax amydae, thuộc họ ba ba (Trionychadae). Bộ phận dùng nấu cao là mai khô. Mai ba ba tính lạnh, vị mặn, đi vào các kinh can, thận, tỳ, phế. Được dùng làm thuốc bổ âm, dùng cho người lao gầy, lao lực quá độ, nhức xương, sỏi đường tiết niệu (tiểu ra sỏi), phụ nữ bế kinh. Sử dụng ở dạng bột, sắc hay cao mềm. Liều trung bình mỗi ngày 10-30g. Các trường hợp không dùng như âm hư mà không nhiệt, tỳ hư lại tiêu chảy, phụ nữ đang mang thai.

Thực ra còn nhiều loại cao nữa như cao trăn toàn tính, cao khỉ toàn tính…; Các loại cao dán ngoài như cao rết, cao nọc rắn v.v… Đó là chưa nói đến các loại cao được chế biến từ dược thảo.

Mong rằng những trình bày trên sẽ giúp chúng ta có được một số khái niệm cơ bản về tác dụng và liều dùng thông thường của các loại cao, tránh tình trạng lạm dụng các loại cao từ động vật vốn vẫn rất thường gặp. BS. HOÀNG XUÂN ĐẠI (Theo Sức khoẻ Đời sống)

Chủ Nhật, 8 tháng 2, 2015

CAO XƯƠNG ĐỘNG VẬT ĐIỀU TRỊ BỆNH TRONG ĐÔNG Y


Dùng cao xương động vật trong điều trị là một trong những phương pháp chữa bệnh rất phong phú của Y học cổ truyền nước ta...
Dùng cao xương động vật trong điều trị là một trong những phương pháp chữa bệnh rất phong phú của Y học cổ truyền nước ta. Từ xa xưa, nhân dân ta đã dùng các loại cao xương, đặc biệt là cao xương từ các loài thú rừng (Hổ, Khỉ, Gấu, Sơn dương, Gạc nai…) để làm thuốc chữa bệnh và đã tổng kết được nhiều kinh nghiệm bào chế và sử dụng nguồn dược liệu quý giá này.
Theo các sách Y học cổ, mỗi loại cao xương có tác dụng chữa bệnh khác nhau, thí dụ:

Cao Hổ cốt: Vị thuốc chữa đau xương, tê thấp. Theo Y học dân tộc: Cao Hổ cốt vị cay, mặn, tính ấm, có tác dụng mạnh gân cốt, bổ xương tuỷ, trục phong, trừ tê bại, dùng chữa gân xương đau nhức, đi lại khó khăn, chân tay co quắp, những bệnh đau xương khớp; ngoài ra cao Hổ cốt còn được dùng làm thuốc bổ, tăng sức lực.

Cao Xương khỉ: Vị mặn, mùi tanh, tính ấm, có tác dụng bổ can thận, bổ máu, mạnh gân cốt, được coi là vị thuốc bổ toàn thân, dùng cho những người yếu mệt, kém ăn, thiếu máu.


Cao Ban long: Được nấu từ Gạc hươu, Nai, luôn được coi là một vị thuốc bổ quý; thường được dùng cho những người yếu mệt, suy nhược thần kinh, khí huyết suy kiệt, tóc rụng, thận hư… Ngoài ra, Cao Ban long còn được dùng chữa ho ra máu, ruột chảy máu, tiểu tiện ra máu, kinh nguyệt quá nhiều, chân tay đau nhức.


Cao sơn dương: được nấu từ xương dê núi là một thành phần trong cao hổ cốt của các cụ ta ngày xưa (gồm 5 hổ, 2 sơn dương,1 khỉ, 1 gạc hươu)  có câu "phi sơn dương bất thành hổ cốt" cao sơn dương có tác dụng cứng mạnh gân sương, làm cơ thể cường tráng tăng sữa ở sản phụ, tốt cho tình dục hai giới

Như vậy, những bệnh được chữa bằng cao xương rất nhiều, tuy mỗi loại cao có tác dụng chính đối với một số bệnh, nhưng chúng vẫn có những công dụng chung. Nếu tổng hợp công dụng của các loại cao xương được biết kể trong các tài liệu Y học cổ, có thể tập trung vào một số nhóm bệnh sau đây:


Các bệnh về xương: Thấp khớp, còi xương, nhuyễn xương…
Các bệnh về máu, đặc biệt là các chứng chảy máu.
Các bệnh tinh thần kinh: Trạng thái kích thích, mất ngủ, hồi hộp, co giật, nôn mửa…
Các bệnh khác: Suy nhược, phù nề, yếu tim…


Những công dụng trên phản ánh tương đối rõ vai trò của canxi và phốt pho bên cạnh các chất khác có trong cao xương (Nitơ toàn phần, axit amin…). Về tác dụng dược lý, canxi đóng vai trò quan trọng đối với hệ xương cũng như đối với hệ thần kinh trung ương. Nó rất cần thiết trong quá trình đông máu, chuyển prothrombine thành thrombine, đồng thời là yếu tố quan trọng trong thẩm thấu mao mạch và các màng, làm vững chắc các màng, giảm sự thẩm thấu quá độ.


Phốt pho cũng có nhiều chức phận trong chuyển hoá tế bào, và những chức phận đó đều rất quan trọng.
Như vậy, nói đến tác dụng phòng, chữa bệnh của cao xương, người ta nghĩ nhiều đến vai trò của canxi và phốtpho. Trong thực tế, có rất nhiều bệnh cần được bồi bổ canxi và phốtpho, do đó việc dùng cao xương là một trong những phương pháp chữa bệnh độc đáo của Y học dân tộc để cung cấp cho cơ thể một loại canxi rất thích hợp khi bị thiếu canxi.


Trong nghiên cứu thừa kế phát huy vốn Y học cổ truyền của dân tộc, nhiều tác giả đã nghiên cứu về cao xương, đặc biệt là thành phần hoá học của chúng. Sau đây là thành phần hoá học của cao Ban long và cao Khỉ - hai loại cao xương được nhiều người ưa dùng hiện nay:
Thành phần Cao dê núi
N toàn phần 16,86
protein 80%
Độ tro 1,88
Clo (tính bằng HCl) 0,56
Canxi (%) 0,02
Photpho(tính bằng H3PO4)0,03

Thành phần Cao Ban long
N toàn phần (%) 15,55 - 17,62
Axit amin (%) 0,53 - 0,96
Lipit (%) 0,05 - 0,07
Độ tro 1,96 - 2,37
Asen (phần triệu) 5 - 6
Clo (tính bằng HCl) 0,2 - 0,66
Canxi (%) 0,08 - 0,12
Photpho (tính bằng H3PO4) 0,04 - 0,20
Bs. Hương Liên